Hiểu về: Đái tháo đường thai kỳ (Phần 1) | Bệnh viện Hoàn Mỹ Vạn Phúc 2

Hiểu về: Đái tháo đường thai kỳ (Phần 1)

16-09-2019

Giai đoạn mang thai, cơ thể người mẹ bắt đầu có nhiều biến đổi, thậm chí thay đổi về sức khỏe và đái tháo đường thai kỳ là một trong số những bệnh thường gặp, để lại nhiều biến chứng cho cả mẹ lẫn con.

 
Tuy nhiên, đái tháo đường thai kỳ mức độ nhẹ thai nhi bị ảnh hưởng như thế nào? và mẹ vẫn chưa được hiểu rõ. Định nghĩa về đái tháo đường thai kỳ trước đây không cho phép phân biệt mức độ nặng nhẹ. Theo đó, đái tháo đường thai kỳ (ĐTĐ thai kỳ) có thể bao gồm từ rối loạn dung nạp glucose đến tăng đường huyết nặng và cách theo dõi sau sanh liệu có gì khác biệt?

Đái tháo đường thai kỳ còn được gọi là tình trạng rối loạn dung nạp đượng xảy ra trong thai kỳ. Hiện nay, ước tính có khoảng 5% những phụ nữ có thai bị bệnh đái tháo đường thai kỳ (ĐTĐ) và thường gặp ở 3 tháng giữa của thai kỳ. 
 

ĐTĐ thai kỳ được định nghĩa là những trường hợp được phát hiện đường huyết cao lần đầu tiên trong thời gian mang thai, không loại trừ khả năng họ bị ĐTĐ từ trước nhưng chưa được chẩn đoán. Đái tháo đường thai kỳ đang có chiều hướng gia tăng do sự gia tăng tỉ lệ béo phì, đái tháo đường tuýp 2 ở người trẻ và đề kháng insulin trong hội chứng buồng trứng đa nang. 
 

Quy trình tầm soát đái tháo đường thai kỳ?
1. Vào tam cá nguyệt thứ nhất:
cho các thai phụ nguy cơ cao
-    Vào lần khám thai đầu tiên, chỉ những thai phụ có nguy cơ cao mới cần thử đường huyết đói, HbA1c hoặc thử đường huyết bất kỳ dựa vào số liệu dịch tể các rối loạn đường huyết theo tuổi của từng địa phương.
-    Ngưỡng chẩn đoán đái tháo đường thực sự trong thai kỳ cũng tương tự tiêu chí mới chẩn đoán đái tháo đường của ADA năm nay, nghĩa là đường huyết đói ≥ 126mg/dL, HbA1c ≥ 6.5% hoặc đường huyết bất kỳ ≥ 200mg/dL càng chắc chắn.
-    Nếu đã đủ tiêu chí chẩn đoán đái tháo đường thực sự, việc điều trị và theo dõi cũng tương tự bệnh nhân đã có đái tháo đường từ trước.
-    Nếu đường huyết đói từ 92-125mg/dL: chẩn đoán đái tháo đường thai kỳ
-    Nếu đường huyết đói < 92mg/dL à cần làm nghiệm pháp dung nạp glucose (75g-OGTT) vào tuần thứ 24-28 của thai kỳ.
Những thai phụ có nguy cơ mắc ĐTĐ thai kỳ cao:
-    Thai phụ > 25 tuổi
-    Quá cân hoặc béo phì
-    Tiền căn người trong gia đình từng mắc bệnh đái tháo đường (trực hệ)
-    Tiền căn sanh con > 4kg hoặc được chẩn đoán đái tháo đường thai kỳ lần trước
-    Buồng trứng đa nang.
2. Vào tuần thứ 24-28 của thai kỳ: chỉ định cho tất cả thai phụ có đườnghuyết đói trước đó < 92mg/dL
-   Để chẩn đoán đái tháo đường thai kỳ vào tuần 24-28, thực hiện nghiệm pháp dung nạp glucose, bằng cách cho bệnh nhân nhịn đói nguyên đêm, sáng hôm sau thử một mẫu đường huyết đói và một mẫu đường huyết 2 giờ sau khi uống 75g Glucose.
-   Đái tháo đường rõ nếu FPG ≥ 126mg/dL.
-   Đái tháo đường thai kỳ nếu: ít nhất một mẫu đường huyết đói từ 92-125mg/dL, đường huyết 1 giờ sau uống 75g glucose ≥ 180mg/dL và hoặc đường huyết 2 giờ sau uống 75g glucose ≥ 153mg/dL
-   Nghiệm pháp bình thường nếu đường huyết sau uống 75g dưới ngưỡng chẩn đoán đái tháo đường thai kỳ 
-   Thiếu chứng cứ trong việc chỉ định rộng rãi nghiệm pháp dung nạp glucose trong chẩn đoán và điều trị đái tháo đường thai kỳ trước tuần 24-28.
-   Mọi thai phụ đã được chẩn đoán đái tháo đường thai kỳ hoặc đái tháo đường thực sự trong suốt thai kỳ nên được theo dõi đường huyết tiếp tục sau sanh.
Tóm lại, khuyến cáo này có ảnh hưởng rất lớn đến quy trình khám thai định kỳ. Điểm đặc biệt là khuyến cáo này nhấn mạnh việc các bác sĩ sản khoa nên tầm soát sớm bệnh đái tháo đường thực sự (gồm đường huyết đói và HbA1c) cho các thai phụ có nguy cơ cao vào ngay lần khám thai đầu tiên. Đồng thời, toàn bộ các thai phụ (ngoại trừ các thai phụ đã được chẩn đoán đái tháo đường thực sự) đều nên kiểm tra đường huyết và tiến hành làm nghiệm pháp dung nạp glucose vào tuần thứ 24-28 của thai kỳ. Những phụ nữ đã được chẩn đoán đái tháo đường thai kỳ hoặc đái tháo đường thực sự trong thai kỳ nên tiếp tục theo dõi đường huyết sau sinh.
Theo BS. TRƯƠNG DẠ UYÊN (Chuyên khoa Nội Tiết – BV Hoàn Mỹ Sài Gòn)
Nguồn: IADPSG Consensus Panel. Diabetes Care; Volume 33; No 3; March 2010: 676-682